Wednesday, April 7, 2010

Santa Ana Và Ông Tướng Một Chân


Tác giả sinh năm 1950 tại Dầu Tiếng Bình Dương. Quê quán: Rạch Giá, Kiên Giang. Trước 1975, phục vụ tại Phi Đoàn 253 Sói Thần, Đà Nẵng. Công việc ở Mỹ: Từng thầu landscaping cho freeway tại vùng Nam Cali, nhận job trải dài qua ba quận hạt Los Angeles, San Bernadino và Orange County; Hiện làm một công ty xây nhà. Tham dự Viết Về Nước Mỹ từ năm đầu tiên, ông đã nhận giải bán kết năm 2001 với bút hiệu Tân Ngố, bài “Bên Bờ Freeway”. Sách đã xuất bản: "Chuyện Miền Thôn Dã," rất được bà con hâm mộ. Nhân dịp kỷ niệm 35 năm Tháng Tư, đồng thời cũng là 35 năm khai sinh cộng đồng Việt tại Mỹ, ông góp bài viết lịch sử vùng đất hiện đang là thủ phủ của Người Việt tại Mỹ.

***

Người ở xa thường nói rằng tôi về Lốt chơi (Los Angeles) nhưng ý họ muốn nói là về Little Sài Gòn đấy.
Sở dĩ có sự lầm lẫn này là vì hầu hết đi bằng máy bay và điểm tới là phi trường LAX ở Los Angeles.
Thực ra nếu biết rõ về địa lý vùng này, thì bà con nên lấy vé máy bay về Quận Cam, nơi có phi trường John Wayne mà trên giấy tờ thường gọi là SNA nghĩa là Santa Ana, thì đỡ khổ cho người đi đón, vì freeway từ Lax về thường kẹt xe, có đôi khi lái cả giờ mà vẫn chưa tới.
Ngày xa xưa cách đây năm sáu chục năm thì nguyên vùng này chỉ có tên là Santa Ana, nhưng dân số càng ngày càng đông nên chính phủ mới tách ra thành mười mấy City, mà chúng ta thường nghe thấy là Westminster, Garden Grove, Anaheim, Santa Ana, Costa Mesa, Huntington Beach..v v.
Có những thành phố giàu, an toàn, mà người Việt ưa thích như là Fountain Valley, Irvine, Hungtington Beach hay Newport Beach... nhưng những người làng nhàng như cỡ tôi thì đành phải ở Santa Ana vì giá nhà rẻ, ra đường thấy đầy Mễ, cho dù thành phố này cũng có những khu sang trọng như South Cost Metro, gần South Coast Plaza giá nhà cao ngất ngưởng.
Chúng ta thường được đọc những bài viết về đi du lịch trên toàn thế giới, biết nhiều nơi xa xăm tận cùng trái đất, nhưng nếu bà con anh em ở xa về đây chơi, mà hỏi về vùng này, hay họ muốn đi đâu loanh quanh để ngoạn cảnh, thì chắc phần đông chúng ta cũng mù tịt, cũng không có gì khác ngoài vụ chở đi xuống khu Phước Lộc Thọ ăn nhà hàng Việt Nam, mua đồ trong khu Bolsa, sau đó chở đi Disneyland rồi thì là... hết..
Đối với người Việt, tâm điểm của Thủ Đô Tị Nạn là bốn con đường: Bolsa, Westminster, Brookhurst và Magnolia tạo thành một khu vuông vức, từ đó râu ria mọc ra đến các khu khác, tuy hàng quán VN không dầy đặc bằng.
Mấy ông bà già gọi những con đường kể trên rất dễ nhớ là Bôn sa, Oét min tơ, Bốc hốt và Mắt ngó lia.
Gần đây có người gọi Westminster là Tây Minh Tự vì có chữ west, nhưng đa số không thích tên này vì chúng ta đang trong cao trào chống Trung Quốc mà.
Chắc nhiều người trong chúng ta còn nhớ, đầu thập niên 80 khu Bolsa còn là bãi rác, vườn dâu, khoảng giữa có Bolsa Mini Mall có tiệm sách báo băng nhạc độc nhất Tú Quỳnh, gần tới Magnolia mới có một siêu thị lớn là Hoà Bình, đối diện với chợ Waiwai của vợ chồng ông Dương Hữu Chương chủ báo Đồng Nai và vợ là ca sĩ Diễm Chi. Hình như thời gian đó chỉ có tờ Đồng Nai một mình một cõi, còn báo Người Việt thì ở mãi dưới San Diego (?).
Không ai ngờ sau này khu Bolsa lại trở thành trung tâm cuả người Việt Tị Nạn, bởi vì hồi tôi mới qua (1981), ở góc đường Fairview và First thuộc Santa Ana còn sầm uất hơn nhiều: có siêu thị Viễn Đông bán đủ thứ và cá tươi, có phở Hòa, có quán cà phê nhạc sống Làng Văn, có tiệm thuốc Tây nhận gửi đồ về VN qua hãng Air France, có chợ Văn Lang và lui xuống phiá đường Garden Grove có chợ Minh Hoa bán cả thịt và lòng heo tươi. Gần đấy có Trung Tâm Nguyễn Khoa Nam và tiệm cho mướn sách.
Hơn 30 năm qua đi, bây giờ khu Bolsa đã có trên dưới 10 ngôi chợ thật lớn, thức gì cũng có mà rẻ rề so với hồi đó.
Nhà cửa khu vực chung quanh cho dù cũ, mình kêu giá bốn năm trăm, hở ra là người ta bập liền, có khi chưa kịp đưa lên list.
Các tiệm ăn, nhất là tiệm phở thì đầy dẫy, ngay chỉ một góc đường Brookhurst và Westminster có lẽ đến mười mấy tiệm.
Theo khẩu vị của tôi, các tiệm phở tại khu Little SG bây giờ là ngon nhất thế giới (hơn xa cái nguồn gốc phở bắc Hà Lội) nhưng ăn na ná giống nhau, bởi vậy tôi cứ chọn tiệm nào đề 50% off là vô ăn, thí dụ Vĩnh Ký II có 3$ một tô; Thanh Lịch vào giờ Happy hour 6g chiều trở đi, ăn món gì cũng đồng hạng 4$; Phở 86 giá thức ăn thì bình thường nhưng cà phê, sinh tố, nước ngọt lại được uống free. Tiệm ăn buổi trưa hoặc chiều thì Bún Chả Hà Nội, hay nem nướng Brodard, bánh xèo Vân là những tiệm có tiếng, nên tôi cứ bị bà con yêu cầu chở đến hoài, nhưng ăn vài lần cũng phát ngấy lên, bây giờ cũng không biết chở khách đến tiệm nào, đãi món gì cho lạ, thôi thì lâu lâu đổi bữa, ăn món Bắc đến ngay Nguyễn Huệ, Viễn Đông; ăn món Nam thì đến Lộc Đỉnh Ký...
Có hai tiệm đồ chay khá nổi tiếng là Vạn Hạnh và Tịnh Tâm. Một tiệm thì giá hơi mắc, tiệm kia có món cá kho tộ và canh chua ăn rất ngon.
Nếu khách theo đạo Phật, bạn có thể chở đến các chùa khá đẹp như chùa Dược Sư, Pháp Vân trên đường Magnolia, hoặc chùa Huệ Quang, Bảo Quang gần Bolsa hơn.
Nếu khách theo Công giáo thì nên chở họ đi lễ Chúa nhật tại nhà thờ Lavang. Đây là một nhà thờ mới xây theo mẫu rất đẹp, có đến 80% giáo dân là người Việt, nhưng họ đạo còn nghèo quá vì tiền nợ xây nhà thờ chưa trả hết, trời nóng thấy mồ mà không dám mở máy lạnh, cha con đua nhau quạt phành phạch.
Nếu khách là người Tin Lành, hoặc giả là theo bất cứ đạo nào bạn cũng nên đưa họ tới thăm nhà thờ kiếng ở góc đường Chapman và Haster. Ngôi nhà thờ này quá đẹp, kiến trúc tân kỳ, khuôn viên rộng rãi mát mẻ, có nhiều tượng đồng làm theo ý nghĩa trong kinh thánh.
Nhớ dẫn khách vào phòng vệ sinh nhé, chúng ta sẽ thấy một Restroom đúng nghĩa của chữ rest và sạch như lau như li. Đi khắp nơi trên thế giới có lẽ chúng ta cũng chưa thấy phòng vệ sinh nào đẹp như ở đây.
Đi ngoạn cảnh ngoài phía biển, thì có mấy cây cầu dài bắt ra xa bờ cho thiên hạ câu cá là Newport Beach và Balboa Pier. Ta có thể nhìn thấy cá nục bị kéo lên ba bốn con một lúc. Nếu đi thêm về hướng nam trên con đường Balboa sẽ gặp cửa biển có hàng kè đá hai bên, nơi đây tàu thuyền du lịch ra vào nườm nượp, những căn nhà bạc triệu đẹp đẽ với cây kiểng xanh tươi, chụp hình làm kỷ niệm thì hết xẩy. Cũng ở ghềnh đá này tôi đã lần lượt lôi lên bao nhiêu là tôm hùm, cũng may là chưa bị cảnh sát bắt lần nào, hồi mới qua có biết luật lệ cóc khô gì đâu!
Bây giờ nếu bạn lên Pacific Coast Highway chạy về phía nam chừng 30 phút, tới đường Blue Lantern thì quẹo phải chừng 100m, sẽ có một "Vọng cảnh lầu" để nhìn xem toàn cảnh hải cảng đẹp như tranh vẽ phía dưới. Chúng ta có thể chạy xuống đó bằng hai cách: Lái xe xuống một con dốc hầu như thẳng đứng, hoặc ra lại PCH đi một block nữa để quẹo phải vào đường Golden Lantern thì vô tới bãi đậu xe, để vào viện bảo tàng, hoặc coi những thuyền buồm, giống như tàu hải tặc thời trung cổ.
Vùng Santa Ana còn nổi tiếng vì mỗi năm gần Tết Nguyên Đán có luồng gió tên là Santa Ana Wind thổi rất mạnh từ sa mạc ra. Nó bị tóp nhỏ lại khi vượt qua dẫy đèo San Grabriel nên khi tới vùng gần biển này sức mạnh tăng lên, ôi thôi nó làm gẫy cành đổ cây, lật xe truck lớn nháo nhào trên freeway... nói gì đến cây kiểng, chậu lan, khế, mận thì nó lật tung, vặt sạch lá, bứt quả non xếp đầy gốc nhìn mà phát tiếc đứt cả ruột. Hàng chuối sứ nhà tôi trông te tua không còn hình tượng gì. Có năm gần Tết Nguyên đán ở phiá trước Phước Lộc Thọ, người ta bày bán hoa lan hoa cúc đẹp mê hồn, thế mà bị một bữa, gió nó quăng tung toé coi tang thương như Kiều Nhi sau 15 năm luân lạc.
Ấy vậy mà có thời kỳ sau khi tôi bị sạch túi vì stock, phải rời căn nhà ở khu trung lưu Costa Mesa mà dời về Santa Ana, ở ngay góc Habor với 5th Street với căn nhà nhỏ xíu, lại suýt chết ở thành phố này đấy nhé:
Số là bữa đó gió Santa Ana thổi kinh quá, tôi ra vườn sau hút điếu thuốc, đứng vểnh mỏ nhìn trời hiu quạnh thì tai nạn xẩy ra.
Dân Mễ tại khu nhà nghèo này nếu không đi giặt đồ ở Laundromat thì họ cũng chỉ sắm máy giặt mà thôi, không có máy xấy, rồi đem quần áo ra phơi đầy đằng sau vườn, trên các giây kẽm hoặc hàng rào, và khi gió Santa Ana đến, nó thổi tung lên trời như một đàn diều đứt giây... và tôi bị một cái nịt ngực cuả chị Mễ, cỡ king size quấn ngang cần cổ. Bữa đó nếu không có võ thì tôi đã bị chết nghẹt rồi. Thật là hú vía.
Thành phố này còn nổi danh ở điểm lịch sử giữa hai quốc gia: Hoa Kỳ và Mễ Tây Cơ.
Trước năm 1848, Mễ Tây Cơ là thuộc địa của Tây Ban Nha, biên giới phía bắc lên tới giáp giới tiểu bang Oregon; phía nam đến Panama. Vùng Orange County hiện nay được chính quyền thuộc địa giao cho Trung Sĩ Antonio Yorba, đến năm 1869 thì bán lại cho William Spurgeon. Dân cư hồi đó rất thưa thớt cho mãi đến 1886, khi có đường xe lửa từ Los Angeles tới đây thì người ta mới về lập nghiệp khá đông.
Trong lịch sử chép lại rằng Khi Tổng Thống Santa Ana của Mexico bán lại tiểu Bang California này cho Mỹ, chúng ta thường nghĩ rằng ông này là kẻ phản quốc và giàu lắm. Nhưng sự đời đâu có đơn giản như vậy.
Sinh ra tại xứ Mễ năm 1794, gia nhập quân đội Chính phủ Thuộc địa Tây Ban Nha, năm 22 tuổi ông Santa Ana đã lên tới Đại úy. Ông là hung thần đối với những chiến binh đang chiến đấu giành độc lập, nhưng năm 1822, lại dẫn quân gia nhập hàng ngũ đòi độc lập. Có lần với số quân ít ỏi, ông ta diệt sạch 2,600 quân Tây Ban Nha (họ đầy đủ vũ khí hơn nhưng đang bị bệnh dịch cơn sốt vàng da). Vì chiến công này ông ta tuyên bố mình là Hiệp sĩ, là Đấng Cứu độ Đất mẹ, là Napoleon of the West v v..
Năm 1833 ông làm Tổng thống Mexico, đem quân đến đâu là thế đánh cứ như chẻ tre, có lần đưa chiến thuyền dự định thôn tính cả Cuba nhưng không thành công.
Ông gây hấn lung tung: với quân Pháp, Tây Ban Nha, quân Mỹ, định chiếm Texas nhưng dân cao bồi này đánh dữ quá, lính ông bị chết gần 200 người, lại còn bị quân Texas bắt rồi xử tử thêm 350 người lính nữa và Tổng Thống Antonio Lopez De Santa Ana thì bị bắt sống.
Người bạn vong niên cuả tôi kể rằng: Sau một chiến thắng lớn, ông Santa Ana đi thị sát chiến trường, vì khinh địch, đi với đoàn tuỳ tùng quá ít người nên ông bị toán "Nhân Dân Tự Vệ" bắt được, chính vì vậy nên ông ta mới bị ép buộc bán California cho Mỹ với giá rất hời. Sau đó ông được thả tự do, trở về làm TT nước Mễ tới 5 lần.
Ông gây ra rất nhiều trận chiến, có lần bị quân Pháp từ Louisiana tấn công, bị mảnh đạn đại bác cắt đứt một chân, ông bắt quân đội chôn cái chân đó theo lễ nghi quân cách, kèn trống đàng hoàng.
Xời, chôn có một cái cẳng mà làm bắt náo động!
Ông nổi tiếng Độc Cước Đại Tướng Quân (Peg leg General) với cái chân gỗ từ đó.
Vậy mà ông ta đâu có chịu yên, còn đánh nữa. Năm 1847 quân ông đụng độ với Sư Đoàn Khinh Kỵ Illinois. Lúc đang ăn trưa với một con gà quay, thì quân Mỹ ào tới bất ngờ, chàng ta không kịp mang chân gỗ vào, vội tót lên ngựa chạy thoát. Cái chân gỗ bị "bắt sống" và hiện nay vẫn còn được trưng bày ở Viện Bảo Tàng:
1301 N. MacArthur Blvd, Springfield, IL
TT Santa Ana có vợ và 4 đứa con thì bà vợ mất. Ông than khóc cả năm sau đó, rồi cưới một thiếu nữ mới 15 tuổi.
Ông bán cho nước Mỹ rất nhiều đất đai như toàn tiểu bang Texas, miền trung và nam California, và các tiểu bang New Mexico, Utah, Colorado, Nevada, Arizona, v v... với số tiền rất lớn.
Thế mà năm 1887 ông Tổng Thống nổi danh này chết tủi nhục ở một khu phố nghèo nàn tại NY, trong túi không có một đồng xu teng.
Có người nói xác ông được đưa về chôn ở Los Angeles, người khác bảo là thân nhân cải táng đem về Mễ rồi, chẳng biết ai đúng ai sai.
Nhìn lại quãng đường 35 năm vừa qua, Santa Ana đã thay đổi rất nhiều, nhất là đối với riêng người Việt chúng ta.
Từ những công việc lao lực lương ít, phần đông chúng ta đã phấn đấu ngoi lên, nhiều người có điạ vị cao, xe cộ, nhà cửa đẹp đẽ, cơ sở thương mại và nhất là thế hệ con cháu chúng ta chắc chắn sẽ khá hơn cha ông rất nhiều.
Việc buôn bán cũng có nhiều thay đổi, thì dụ ngày trước mở tiệm gửi đồ về VN thì thuê mấy người phụ đóng thùng cũng không kịp, bây giờ không lo đóng cửa gấp thì có mà ngồi ngáp gió. Mấy năm gần đây người ta lại đua nhau mở tiệm bán nước lọc, rồi phong trào mở Massage chân. Ối thôi thấy người ta ăn khoai vác mai đi đào có ngày sặc gạch.
Về truyền thông thì chỉ có đài TV ông Lương Văn Tỷ, sau đó có thêm bà Nam Trân; Radio cũng chỉ thuê vài giờ một ngày nhưng bây giờ đố ai biết có bao nhiêu đài đang phát thanh phát hình.
Tuần báo ra cũng nhiều, nhưng hầu như chẳng ai để ý xem nó ra ngày nào, còn sống hay chết, hay đang ngắc ngư con tàu đi.
Có ba nhật báo lớn là Người Việt, Việt Báo và Viễn Đông. Tôi đoán là họ làm ăn cũng khá, bởi vì ngài Chủ Nhiệm, Chủ Bút nào cũng có xe "Ô tô con". Hèn chi cách đây mấy tháng lại có một hai nhật báo nữa mới ra lò.
Những đồng bào, anh em chúng ta về đây chơi, ai cũng thích thời tiết, thức ăn vùng này, nhưng nghe đến giá nhà cửa thì dội ngược, thế nhưng theo thống kê, thì người về vẫn đông hơn người đi.
Santa Ana, đúng là đất lành chim đậu.
Nguyễn Viết Tân

Mang Con Bị Tê Liệt Đến Mỹ

Tác giả nguyên quán Rạch Giá, 40 tuổi, hiện là cư dân Seattle, làm việc cho hãng Boeing. Bài viết về nước Mỹ đầu tiên của bà là tự truyện của người vượt biển năm 1989, bị cưỡng bách hồi hương và sau đó được xét cho định cư tại Mỹ. Đây là bài tiếp theo, kể về trường hợp người con bị sốt tê liệt làm tật nguyền được giúp thành người hữu dụng trên đất Mỹ.


***


Năm 84 tôi lập gia đình và tới cuối năm 85 thì có đứa con trai đầu lòng, nhưng không biết vì làm lụng quá sức, hay ăn uống thiếu thốn mà thằng bé bị sanh thiếu tháng nên rất èo uột...
Vào thời điểm "ngăn sông cấm chợ" đó, thì ai là người dân mà không khổ sở!
Gần ba tuổi con trai tôi mới lững chững đi được mấy bước, nhưng nếu khi mọc răng, nóng sốt là lại không thể nào đứng lên được nữa, mà tôi cũng không ngờ là con mình bị chứng sốt tê liệt.
Một tuần lễ sau, lúc tắm rửa cho con, để con đứng vịn vào vai rồi, mà tôi thấy con mình cũng không đứng được. Để cho con ngồi xuống, tôi bóp thử bàn chân của nó thì thấy mềm xèo, tôi vội cho má tôi hay. Bà liền kêu đứa em gái út chở nó lên ông Cố, ông là em ruột của ông nội tôi. Ông biết nhiều về Đông y và rất đông thân chủ. Ông đã châm cứu cho con tôi mỗi ngày, nhờ vậy con tôi mới không bị liệt hai chân nhưng chân phải đã không cứu được.
Nhìn chân của con mình mỗi ngày một teo đi tôi thật là đau lòng, nhưng không đau lòng. Ngoài ra, còn thêm mối đau phải nghe những câu nói thật phũ phàng của cô em chồng: "Con trai nhờ đức của mẹ, hay là trước đây chị có đi ăn cướp giựt gì của ai không, mà bây giờ nó bị như vậy?"
Từ đó ý định đưa con tôi ra nước ngoài để được cơ hội chữa bệnh, đã cho tôi can đảm để quyết định vượt biên dù biết rất nguy hiểm.
Sau bốn ngày lênh đênh trên biển cả thì tàu của chúng tôi gặp tàu Thái Lan.
Gọi là "tàu chúng tôi" cho oai chứ thật ra chỉ là chiếc ghe mà thôi, vì chiều dài thì được 8 thước và chiều ngang được 2.5 thước, một máy chạy dầu và một máy chạy xăng, nhưng máy chạy xăng thì đã bị hư ngay ngày đầu tiên, và trên ghe chẳng có gì để che chắn, mà lại chở cả lớn lẫn bé tổng cộng đến 31 mạng.
Ngày cuối cùng tất cả mọi người ai cũng nghĩ là tới số rồi, thôi thì đành phó thác cho mệnh Trời chứ biết sao bây giờ. Khi nhìn lên chiếc tàu Thái thì càng kinh khiếp hơn nữa. Một đám người mình trần trùng trục, quấn sà rông, đầu tóc lởm chởm, da đen thùi lùi, mình thì xâm đủ thứ hình thù quái dị, đang đứng ở trên mũi tàu nhìn xuống đám người vượt biên, với con mắt trắng dã.
Trong chuyến đi này chỉ có hai đứa con tôi là nhỏ nhất, đứa bốn tuổi và đứa kia hai tuổi, cho nên mẹ con được ngồi ở ngay trên mũi ghe. Khi nhìn thấy tàu Thái nó chưa biết tốt xấu như thế nào, vì vậy nó hét to lên "Malaysia, Singapore" cùng với hai ba người khác.
Trong chuyến đi của tôi có hai ông cựu Thiếu Tá Thiết giáp, nói được tiếng Anh, nên khi người thuyền trưởng Thái hỏi trong tàu có ai biết nói tiếng Anh không, một ông trả lời là có và họ hỏi là có ai bị bênh tật gì không, nếu có thì đưa những ai bị bệnh và con nít sang tàu của họ để nghỉ ngơi, nhưng chẳng một ai dám sang cả. Vậy là họ cho chúng tôi đồ ăn và nước uống rồi họ thòng dây kéo chiếc ghe của chúng tôi. Khi thấy họ cho thực phẩm nhưng vì sợ hãi, cho nên cũng chẳng ai dám ăn gì cả, dù mấy ngày nay lênh đênh trên biển người nào cũng chỉ ăn chút bánh hay gạo rang mà thôi.
Ban ngày còn đỡ nhưng đêm xuống thì thật là sợ, vì đám đàn bà con gái chẳng biết ai sẽ là người phải nạp mạng, nhưng thật may mắn cho chúng tôi, gặp được ông thuyền trưởng quá tốt bụng.
Ông ta nói khi nhìn đằng xa thấy có con nít, và ngay chỗ này bữa trước đã có một chiếc ghe từng bị đánh chìm rồi. Mà quả có thế, chúng tôi cũng nhìn thấy những miếng ván trôi lềnh bềnh trước mặt.
Màn đêm xuống dần, chiếc tàu Thái pha đèn sáng trưng, kéo theo chiếc ghe chở những người đi tìm tự do nhưng chưa biết số phận sẽ ra sao...thì có một bóng người đi từ bên hông chiếc tàu, mò xuống ghe của chúng tôi. Tất cả mọi người ai cũng sợ nhưng không dám la hét gì cả, nhưng thật bất ngờ, ông thuyền trưởng từ trên phòng lái nhìn thấy, quát to lên một tiếng, vậy là cái bóng đó quay trở lại chiếc tàu Thái.
Nửa đêm ông ta sợ lính của mình làm bậy nữa, nên ông đã sang ghe của chúng tôi ngồi thức cho đến sáng. Ông còn nói rằng nếu thuyền trưởng đồng ý cho họ làm bậy, họ mới dám và ông ta nói là ông cũng có đứa con bị liệt như con tôi, nên ông sẽ giúp kéo ghe của chúng tôi đến hải phận Mã Lai và còn chỉ cho cách giấu vàng bạc, để khỏi bị hải tặc Mã cướp mất.
Vậy rồi gia đình tôi cũng đến được trại tỵ nạn Mã Lai, nhưng lại sau ngày đóng cửa trại. Dù vậy con tôi cũng được Cao ủy đưa người tới tập vật lý trị liệu, nhưng thằng bé đi lại vẫn còn rất khó khăn, đi được vài bước là té.
Nó nhìn những đứa trẻ cùng lứa tuổi chạy nhảy tung tăng, với ánh mắt thèm thuồng thật là tội nghiệp.
Mấy năm sau, gia đình tôi bị cưỡng bách hồi hương.
Thật tình ép về Việt Nam tôi không sợ bị VC làm khó dễ, nhưng tôi lo cho con của tôi không biết làm sao mà hội nhập vào cuộc sống với những đứa trẻ cùng trang lứa, hoặc là sau này thì làm sao có thể đi làm được như những người khác, khi mà một xã hội nhìn những người tàn tật với một con mắt "phỉ báng và nhạo cười", nhưng thật may mắn trở về không bao lâu thì cả gia đình tôi đã được chính phủ Mỹ cứu xét cho đi định cư. Vậy là con tôi sẽ có cơ hội chữa bệnh.
Một tháng sau khi tới Mỹ, con tôi đã được nhập viện để điều trị, nhưng vì thời gian bị bệnh đã trên mười lăm năm, cho nên chỉ còn có cách là mổ chân bên trái, nạo bớt chất sụn ở các khớp xương, để cản trở sự phát triển chân kia, ngõ hầu hai chân bớt chênh lệch nhau và đi lại cũng bớt khó khăn.
Khi nhìn những Bác Sĩõ ở đây săn sóc cho con tôi rất tận tình, tôi thật cảm phục tấm lòng của họ. Bác sĩ, Y tá khuyến khích, dìu cho con tôi đi từng bước và trò chuyện với nó như một người bạn, để con tôi quên đi đau đớn và họ còn nói rằng tuy bị như vậy nhưng đầu óc con tôi rất thông minh!!! Họ khuyên nó hãy nghĩ mình là một người bình thường, không phải là một người tàn tật và hãy tin tưởng vào khả năng và khối óc thì không có gì mà làm không được.
Nhờ những lời khuyên đó mà con tôi đã không bằng lòng cho tôi nộp đơn xin tiền S.S.I cho dù có nhiều người nói rằng được tiền đó, con tôi khỏi phải đi làm mà tôi cũng được nhàn lây.
Bây giờ con tôi đã đi được, tuy không đứng thẳng băng, bước vững như mọi người, nhưng nó không phải lệ thuộc vào bất cứ cây gậy nào để chống đỡ nữa.
Một điều hạnh phúc nhất là con tôi đã được đất nước Mỹ cưu mang, giúp đỡ để có cơ hội học hành và thành đạt, chứ không như hồi còn ở VN, khi những đứa bạn cùng trang lứa chơi đá banh đánh vợt rượt đuổi nhau, nhìn ánh mắt thèm thuồng thật là tội nghiệp quá. Ngay như xe đạp con tôi cũng không dắt nổi nói chi là lái xe hơi, vậy mà ở xứ Mỹ này con tôi đã lái được xe, học xong đại học, đi xin việc làm thì được ưu tiên.
Bây giờ con trai tôi đã có được công việc mà nó hằng mong muốn.
Tôi thật sự cảm ơn tấm lòng nhân đạo và nhiệt thành của những Bác sĩ, Y tá, Thầy Cô giáo ở trên đất nước tự do này, đã giúp cho con tôi bỏ đi sự mặc cảm, có được tự tin và được dìu dắt đi những bước vững chắc trên đường đời và trong tương lai...


Nguyễn Thị Thu Hương
Seattle- Wa, Tết Canh Dần 2010


NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

KHI TÓC KHÔNG CÒN XANH.

Ngày mái tóc không còn xanh được nữa,
Ngày đôi tay thôi dệt mộng phù hoa,
Thì em sẽ vì anh mà mở cửa,
Trông lên trời đếm hàng vạn sao sa.

( Thơ: Nguyên Sa).


Tôi thu xếp ít quần áo và vài thứ lặt vặt cần thiết vào trong chiếc va ly nhỏ, sửa soạn cho một chuyến đi vài ngày. Bác ruột tôi vừa qua đời tại thành phố Wichita , tiểu bang Kansas.Gia đình bác mới từ tiển bang Washington D.C. dọn về đây được mấy tháng nay.
Lòng tôi buồn vời vợi đang nghĩ nên nói cách nào cho đám anh chị em họ của tôi về chuyện hạnh phúc của gia đình mình đang đến hồi sụp đổ?
Chồng tôi về tới nhà, thấy tôi bên chiếc va ly anh chỉ hỏi một cách bình thường:
- Em sắp đi đâu?
- Bác Lân em vừa qua đời, em phải về tham dự tang lễ.
Anh lạnh lùng, ngắn gọn:
- Cho anh gởi lời chia buồn đến họ.
Chúng tôi đang làm đơn ly hôn. Anh, người đàn ông thành đạt của tôi cũng là một người bay bướm trăng hoa. Suốt thời gian hơn 10 năm chung sống tôi đã cố gắng chịu đựng vì các con, vì muốn gìn giữ tài sản của gia đình không thể để mất vào tay người đàn bà khác.
Nhưng cho tới hôm nay thì sức chịu đựng của tôi đã cạn kiệt, như giòng nước lũ làm vỡ bờ chảy xối xả những giận hờn và tủi nhục. Anh đã về Việt Nam du lịch nhiều lần và gian díu với một cô gái trẻ đẹp, chính anh thẳng thắn đề nghị ly hôn với tôi, để cưới cô gái đó làm vợ.


************


Sau những ngày tang lễ bác, và những lần tâm sự với các anh chị họ về tình trạng gia đình của tôi hiện nay. Các anh chị đều nói hạnh phúc của tôi không thể cứu vãn được nữa, chia tay là giải thoát cho cả hai.
Wichita thành phố không qúa lớn cũng không qúa nhỏ, và cũng chẳng có gì hấp dẫn tôi vào lúc này, mà còn hai ngày nữa tôi mới phải trở về nhà, dù là ngôi nhà bất hạnh, có người đàn ông tôi từng yêu thương, qúy trọng, nay đã quay mặt phản bội hất hủi tôi.
Đến tiểu bang Kansas, thành phố Wichita lại không xa mấy thành phố Liberal, chỉ 4 tiếng lái xe, làm tôi bỗng dưng tha thiết nhớ đến thành phố Liberal, nơi mà ngày đầu tiên đến Mỹ gia đình chúng tôi đã ở đây, và trong ký ức tôi mơ hồ nhớ đến John, người bạn thân thuở đó. Thuở tôi mới 15 tuổi.
Gia đình chúng tôi đi vượt biển, đến trại tị nạn Bidong, Mã Lai. Sau 9 tháng gia đình chúng tôi đến Mỹ nhờ sự bảo trợ của một gia đình người Mỹ. Đó là ông bà Smith, nhà truyền giáo, họ chỉ có 1 người con trai, anh tên John, lớn hơn tôi 1 tuổi.
Nhà chúng tôi ở không xa căn nhà của ông bà Smith, nơi hứơng Nam của thành phố Liberal nhỏ bé. Nhà ông bà Smith đúng là một căn nhà nông thôn, mảnh sân rất to rộng phía trưóc khi mùa Xuân đến là trồng trọt dưa hấu, xung quanh nhà những cây lê, cây táo và cây đào lần lượt thi nhau nở hoa.
Tôi không có ai để chơi ngoài John hay sang nhà trò chuyện, mấy đứa em tôi cũng thích xúm vào hóng chuyện, và thỉnh thoảng tôi cũng chạy sang nhà John vào những lúc cây có trái chín trên cành. Ôi, tôi mê cây táo chẳng biết loại táo gì mà cành cây khi chĩu trái thì xà xuống thấp đến nỗi tôi chỉ việc ngồi xổm mà tha hồ hái trái. Lại còn vườn dưa hấu trước sân, tôi hay cùng John háo hức vạch tìm trong đám lá những trái dưa hấu nhỏ vừa hiện ra và thích thú theo dõi chúng cho đến khi lớn lên, to tròn vươn lên khỏi đám lá. Không gì ngon ngọt bằng trái dưa hấu vừa cắt cuống trong vườn, bổ ra ăn ngay tại chỗ trong một buổi trưa hè mà John thường làm cho hai đứa cùng ăn.
John nói chuyện với tôi đủ thứ, từ những chuyện hàng ngày của anh cho đến những ước mơ mai sau, anh lấy vợ thì sẽ về sống ở một nông trại. Anh say sưa tả cái nông trại của gia đình anh trước kia ở tiểu bang Texas, có một căn nhà gỗ dài, bên cạnh là chuồng bò bằng hàng rào gỗ sơ sài, anh khoe biết cách vắt sữa bò.
Anh đã chạy rong trên cánh đồng có khô hay đi trên con đường đất mà mỗi khi gío mùa hè lồng lộng thổi làm tung bụi mịt mù.
Đất Texas khô cằn gần như sa mạc, cả mấy chục acre đất nhà anh chỉ toàn là những bãi cây lúp xúp thấp lè tè chưa vượt qua đầu thàng bé lên 10 như anh thuở đó, và những bụi xương rồng rải rác. Nhưng anh vẫn yêu thích ở nông trại, một trời một cõi như của riêng mình.
Tôi cũng say sưa nghe John kể, như đi lạc vào một cảnh trong phim ảnh, vì nó xa lạ với tôi, chứ tôi chẳng đời nào thích sống ở những nơi khỉ ho cò gáy như thế.
Tôi luôn mơ nước Mỹ với những thành phố nhộn nhịp phồn hoa như New York , tôi sẽ dạo bước trên những vỉa hè có những cửa hàng sang trọng. Cuộc sống sẽ là một chuỗi ngày vui..
Hai năm sống ở Liberal thì cha mẹ tôi quyết định sẽ dọn đi tiểu bang khác, vì tương lai của mấy chị em tôi, để chúng tôi được sống ở thành phố lớn, học ngôi trường lớn và có cộng đồng người Việt Nam đông hơn. Tôi qúa chán thành phố Liberal nhỏ bé này rồi, và đã đợi chờ quyết định này của cha mẹ từ lâu.
Ngay chiều hôm đó, tôi hí hửng chạy sang nhà John để báo tin vui này. Đó là một buổi chiều mùa hè đầy nắng. Tôi quen thuộc thò tay mở chốt cánh cổng bằng rào gỗ ngoài sân, và đi bộ trên con đường dài mà hai bên là vườn dưa hấu đang độ chín. May qúa John có nhà, mà mấy khi John đi vắng đâu, anh thích ở nhà giúp cha mẹ làm vườn, ngoài những khi thỉnh thoảng theo cha mẹ đi truyền đạo trong thành phố vào dịp cuối tuần.
Trời nắng nên tôi và John không hẹn mà cùng bước về phía những cây táo trồng quanh mảnh sân trước, như chúng tôi thường đến đó ngồi hái trái ăn và tán chuyện gẫu.
Tới một cây táo to lớn, cành rậm rạp mang nhiều trái, John ngồi xuống trước rồi đến tôi. Hôm nay tôi chẳng cần hái những trái táo mà lên tiếng khoe ngay:
- Anh John, gia đình tôi sắp rời khỏi thành phố này rồi.
Mặt Johm hoảng hốt như vừa nghe một tin kinh khủng lắm:
- Sao? Em sẽ đi…có thật không?
- Thật đấy, bố tôi nói cuối tuần này sẽ dọn đi. Ngày mai cha mẹ tôi sẽ sang từ gĩa cha mẹ anh. Bây giờ tôi cũng sang để chào tạm biệt anh.
Giọng John vẫn bàng hoàng:
- Có bao giờ em trở lại đây không?
Thấy gương mặt buồn lo của John, tôi tội nghiệp hứa liều:
- Chắc chắn tôi sẽ trở lại thăm John và cha mẹ của John chứ.
John bỗng vụt đứng dậy:
- Hãy dợi anh ở đây, anh sẽ trở lại ngay.
John chạy bay vào nhà và lại chạy bay ra chỗ cây táo, không để tôi phải đợi lâu, anh đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ có ghi sẵn tên John và số điện thoại nhà anh, mà chắc là anh vừa ghi vội, giọng anh tha thiết như năn nỉ:
- Em hãy giữ lấy số điện thoại này, khi nào đến nơi ở mới thì liên lạc với anh. Em hứa đi!
Tôi cảm động, một lần nữa tôi hứa liều:
- Vâng, khi có nơi ở mới tôi sẽ gọi cho anh.
- Đừng thất lạc nhau nhé. Em hứa đi!
- Vâng, không bao giờ !
***********
Nhưng khi đến California thì tôi bận rộn với cuộc sống mới, và những lời hứa vội vàng với John bỗng chỉ là một trò đùa, tôi vứt đi mảnh giấy mà anh đã kỳ vọng trao vào tay tôi, đã dặn dò tôi và chắc là đã chờ đợi mỏi mòn kể từ ngày tôi rời thành phố nhỏ!
Nối lại nhịp cầu liên lạc với John làm gì trong khi ở cái tuổi 17 tôi mơ hồ hiểu John đã yêu thích tôi, mà tôi dù có cảm tình với anh thì tôi cũng không thể nào lấy anh, vì mộng ước của anh và tôi hoàn toàn trái ngược. Đành rằng gia đình anh là người ơn của gia đình tôi, họ hiền lành đạo đức, John sẽ là người chồng, người cha tốt như tấm gương của cha mẹ anh, nhưng tôi không thể lấy người chồng ít học, làm nông trại và tôi chỉ quanh quẩn sống với chồng trong mấy chục acre đất hoang vu, chốn đồng khô cỏ cháy với mấy con gà, con bò như anh đã vẽ ra..
Tôi đã từng nghe chuyện nhà nông khốn khổ, trồng 1 acre bắp chỉ bán được khỏang 80 đồng theo gía sỉ, hay những vụ cam trúng mùa ở Florida, gía cam bán ra mà như cho không, chỉ 50 cent cho một thùng cam to, và những vụ khoai tây trúng mùa ở Idaho cũng xuống gía rẻ bèo như thế.
Giấc mơ tuổi mới lớn của tôi là giàu sang phú qúy, lấy người chồng có địa vị, học cao hiểu rộng.
Ở thành phố mới tôi đã miệt mài học hành, chính bản thân tôi cũng sẽ vươn cao. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đi làm và kén chọn người chồng tương lai. Tôi đã bỏ qua nhiều cơ hội lập gia đình vì chê họ không xứng đáng với tôi, cho đến khi gặp người chồng hiện tại. Năm ấy tôi đã 30 tuổi, chồng tôi là một người thành đạt trong học vấn và trong kinh doanh. Tôi đã đạt được ước mơ và vui hưởng trong hạnh phúc trong vài năm đầu.
************ .
Tôi quyết định thuê xe để lái từ thành phố Wichita đến thăm thành phố Liberal, nói cho đúng hơn để thăm lại gia đình ông bà Smith và John của ngày xưa xem họ thế nào?
Sau 4 giờ lái xe, tôi đã trở về nơi chốn cũ.
Thanh phố nhỏ, đường kính lớn khỏang hai miles thì có gì là khó mà không tìm ra ngôi nhà của ông bà Smith nơi cuối phố, dù tôi đã xa cách hơn 20 năm rồi. Tôi hỏi thăm người ta nói nhà ông bà truyền giáo Smith vẫn ở chỗ cũ.
Khi tôi xuống xe, đứng ngẩn ngơ nơi cánh cổng rào gỗ năm xưa, bỗng thấy ngậm ngùi, có thể cánh cổng gỗ đã từng hư cũ, từng thay đổi, làm lại cái khác, và cái chỗ mở chốt cửa không phải là miếng gỗ mà tay tôi đã từng chạm vào năm xưa, nhưng vẫn giống thế, và như thể vẫn chờ đợi tôi chạm tay vào.
Tôi run run thò tay vào mở chốt cửa, lại ngậm ngùi hơn vì ngẫu nhiên bây giờ đang là mùa hè, hai bên lối đi của mảnh sân vẫn trồng dưa hấu, lá xanh rậm rạp, và xung quanh vẫn là những cây đào, cây lê, cây táo… Thế giới đổi thay bao nhiêu thứ mà nhà ông bà Smith dường như không hề thay đổi.
Tôi đi vội trên con đường dài, hồi hộp nhìn chăm chăm vào ngôi nhà trước mặt đang đóng cửa, không còn tâm trí nào nhìn ngắm vườn dưa hấu xem có nhiều trái hay không. Rồi tôi gõ cửa và chờ đợi.
Mãi sau mới có tiếng mở cửa, hiện ra trước mặt tôi là bà Smith, bà đã gìa đi -dĩ nhiên- Sau vài phút ngỡ ngàng nghe tôi tự giới thiệu thì bà đã nhận ra tôi, bà mời tôi vào nhà, rưng rưng nước mắt bà trách móc:
- Thì ra là cô, tại sao mãi hôm nay cô mới trở lại đây? John đã chờ đợi cô mấy năm trời.
Tôi xúc động và nước mắt cũng rưng rưng như bà Smith:
- Tôi xin lỗi, tôi vô cùng xin lỗi vì đã không thực hiện điều đã hứa với John
- Cô đâu có biết, ngay khi gia đình cô đi được một tuần là John đã chờ đợi cô gọi phone về từng ngày. Nó luôn tin tưởng cô sẽ gọi phone cho nó và một ngày nào cô sẽ trở về Liberal.
Bà Smith gục đầu xuống và khóc nấc lên, kể tiếp:
- Nó đau khổ và héo hon cho đến khi hoàn toàn tuyệt vọng…
Tôi vuốt ve cánh tay bà an ủi như an ủi cho chính mình, tôi cao giọng hỏi thăm:
- Số phận tôi và John không thể gần nhau thôi mà. Bây giờ anh ấy ra sao?
- Sau đó John lấy vợ, Christine là con gái một nhà truyền giáo bạn thân của vợ chồng tôi, cô gái hiền lành ngoan ngoãn và rất yêu John, đã làm lành vết thương lòng của John. Nhà vợ chồng nó cũng ở gần đây.
- Thế anh ấy không muốn sống ở nông trại như anh ước mơ sao?
Bà Smith lau nước mắt, thoáng một niềm vui:
- Đó chỉ là ước mơ của một thằng bé tuổi vị thành niên, một thằng bé nhà quê, mà suốt thời thơ ấu sống nơi trang trại. Khi John và Christine yêu nhau, cả hai cùng vào đại học. Họ đã tốt nghiệp y khoa và đang hành nghề bác sĩ ngay tại thành phố Liberal này.
Tôi ngạc nhiên và vui mừng reo lên:
- Không ngờ John học gỉoi và có chí đến thế!
- Tôi tin là nhờ có tình yêu của Christine.
- Với nghề nghiệp bác sĩ cả hai vợ chồng John có thể đi đến những thành phố lớn lập nghiệp dễ dàng, nhưng sao họ vẫn ở lại nơi đây?
- Chúng tôi đã quen sống ở thành phố nhỏ, từ ngày ông Smith mất đi, John càng không muốn xa mẹ. Nhưng nó dù bận hành nghề, vẫn không quên phụ giúp tôi gieo trồng và làm vườn mỗi khi mùa Xuân về. Đó là niềm yêu thích của John.
Tôi đứng dậy chào tạm biệt bà Smith. Bà bỗng nắm cánh tay tôi, lo lắng dặn dò:
- Phải đấy, cô nên về ngay đi, và xin cô hãy hứa với tôi một điều.
Tôi nói với tất cả chân tình:
- Tôi xin hưá bất cứ điều gì tôi có thể.
- Cô hãy đi và đừng bào giờ trở về đây nữa, bao nhiêu năm qua, vết thương lòng của John đã lành. Tôi tin là John đã quên cô, nó đang sống yên vui hạnh phúc bên vợ con. Nhưng nếu cô xuất hiện sẽ gợi lại nỗi đau cũ. Cô hãy hứa lại một lần nữa cho tôi yên lòng
Tôi chậm rãi nói từng lời rõ ràng cho bà Smith nghe rõ:
- Tôi xin hứa đây là lần cuối cùng đến đây. Thôi, xin chào bà
Tôi đi ra cửa, buớc trên con đường thân quen của thuở tôi 17 tuổi lòng đầy tham vọng, và John 18 tuổi hãy còn ngây thơ và ngốc nghếch, muốn tán tỉnh tôi mà đưa ra một ước mơ nghèo nàn, đơn giản.
Tình yêu chân thật của anh John nhà quê chẳng mấy khi đi đâu xa khỏi cái tiểu bang Kansas với những cánh đồng lúa mì mênh mông, chỉ là một trò cười đối với tôi.
Nhưng hôm nay, ở cái tuổi không còn trẻ nữa, khi mái tóc không còn xanh nữa, sau những vật chất phù hoa tôi đã nếm biết bao vị đắng, trải qua bao phũ phàng của tình nghĩa vợ chồng. Và sau cuộc trò chuyện với bà Smith, tôi chợt nhận ra một tình yêu hồn nhiên trong sáng của John dành cho tôi, và cái hạnh phúc mà bây giờ vợ của John đang hưởng tôi biết là vững chắc, đẹp đẽ biết bao nhiêu, điều mà tôi không hề có.
Khi ra đến ngoài cổng, tôi quay lại khép cánh cổng rào bằng gỗ. Tôi biết mình vừa khép lại một qúa khứ, một bầu trời xanh, và mất nó vĩnh viễn.


Nguyễn Thị Thanh Dương

VỀ MERCER ISLAND


Về Mercer Island chiều thứ bẩy,
Trời không mưa nhưng cũng đủ ngậm ngùi,
Mảnh đất nhỏ sao mênh mông quá vậy?
Tôi đi hoài chưa hết cuộc tình tôi.


Hình như đã lâu mình chưa gặp mặt?
Lòng hoài nghi không biết ở phương nào?
Anh như nắng hiếm hoi vừa biến mất,
Tôi ngẩn ngơ chiều bóng ngả lao xao.


Mercer Island không anh buồn qúa,
Biển gọi anh rào rạt sóng vào bờ,
Tôi về đây dẫu trời không mưa gió,
Mà lòng tôi chưa ấm lại bao giờ.


Thành phố buồn mây mù về ảm đạm,
Se sắt lòng người hơn cả trời mưa,
Tôi đứng đây mà nghe từng hơi lạnh,
Khao khát thèm ấm áp mắt anh xưa.


Seattle vẫn còn thương còn nhớ,
Mercer Island ở phía bên kia,
Đường 90 đi qua vùng biển nhỏ,
Nối hai bờ sao tình vẫn cách chia?


Rời Mercer Island chiều thứ bẩy,
Trời không mưa nhưng mắt lệ long lanh,
Mảnh đất nhỏ sao mênh mông quá vậy?
Tôi tìm hoài không thấy dấu chân anh.


Nguyễn thị Thanh Dương

Tuesday, April 6, 2010

Tháng Tư Nghiệt Ngã



***
1975. Bể thảm mênh mông
Tháng Tư nghiệt ngã, mịt mùng tai ương. Biển nhấp nhô sóng bạc đầu. Những lượn sóng tưởng chừng vô tận, từ ngoài khơi sùng sục tới, cuốn hút tất cả, đập tan mọi thứ. Tôi ngồi trên HQ231, thượng phiên con tàu trong sóng nước chập chùng.
Vùng II duyên hải náo loạn. Dân và lính đua nhau di tản về phía nam trên những Dương Vận Hạm, Hải Vận Hạm... Không còn chỗ chen chân trên Hạm, họ dùng cả những ghe đánh cá, những ghe chở lương thực trên sông, chất đầy ắp ngườiù, nổ máy lạch tạch lùi về phía nam, như hối hả trốn chạy một cơn đại dịch đang hoành hành. Tiếng la khóc vang dội khắp mặt biển, hòa cùng với tiếng rít của gió, tiếng đập của sóng... tạo thành một khung cảnh bi thảm của tử thần. Nhiều ghe đang chạy chợt vỡ tung từng mảnh, vì không thể kham nổi sức tải quá trọng lượng. Nhiều ghe đâm vào nhau trong sương mù, người ta rớt xuống biển, lôi kéo nhau chìm nghỉm xuống lòng đại dương. Những chiếc Dương Vận Hạm đầy nghẹt người, chen chúc, giành giựt nhau từng chỗ để lọt chân. Một số người tuyệt vọng bám sau lái tàu, bị chân vịt quẫy nước cuốn hút vào, chém đứt thân thể, máu phọt lên mặt nước, đỏ lòm. Đám quân tháo chạy lơ láo, có kẻ tuyệt vọng điên cuồng tách rời khỏi hàng ngũ, rồ dại nã súng xối xả vào thường dân trên tàu, chỉ bởi lý do không ai chịu nhường chỗ cho chúng lên tàu.
   HQ231 chúng tôi có nhiệm vụ hộ tống và bảo vệ các Dương Vận Hạm. Trong khi các Dương Vận Hạm này làm công tác di tản dân và lính, thoát khỏi vùng địch sắp chiếm đóng. Điều đau đớn, với nhiệm vụ hộ tống và bảo vệ, nhưng chúng tôi không được quyền bắn một viên đạn nào. Mọi tình huống xảy ra đều báo cáo về thượng cấp. Nhiệm sở tác chiến sẵn sàng 24/24, các ổ trọng pháo trên tàu lăm le nạp đạn, quay nòng súng trực chỉ về phía địch, rồi...cũng để làm  "cảnh", cũng để "màu mè hoa lá cành". Thượng cấp không ban lệnh KHAI HỎA, chỉ ban lệnh RÚT LUI. RÚT LUI một cách kinh hoàng.
Quốc lộ 1, ban đêm, T.54 của Bắc Việt rọi đèn pha, ung dung tiến vào nam như chốn không người. Thỉnh thoảng, chúng dừng lại vài giờ, quay đại bác ra biển, khạc một hơi về phía tàu chúng tôi. Suốt ngày, MIG.21 Bắc Việt dàn đội hình quả trám, bay vần vũ trên bầu trời. Chúng lượn thật thấp quanh các chiến hạm, chầm chậm nhởn nhơ qua những ổ phòng không lạnh tanh, như khiêu khích, thách thức.
Buổi tối, biển bắt đầu hung hăng, bạo tàn hơn. Nó rầm rập tung xối xả hàng hàng cột nước ngất cao, vây phủ từng chiến hạm. Giữa những mịt mùng ghê rợn đó, một ghe dân trọng tải khá lớn đâm sầm vào chiếc Wec khổng lồ. Chiếc ghe thoáng chốc tan tành từng mảng, hàng trăm thường dân rơi lả tả xuống nước. Đoàn tàu đang đi, dừng lại, báo động. Các chiến hạm rải đều ra, khoanh vùng. Thủy thủ xôn xao chuẩn bị áo phao, cấp tốc cứu vớt.
Tờ mờ sáng, tầm nhìn xa chưa được 10 mét, đèn pha trên boong tàu soi rõ mồn một vùng biển tang thương. Công tác nhân đạo...vẫn tiếp tục. Thủy thủ đều mệt nhoài, quân phục đã sũng ướt, cứ thiết tha dầm mình trong giá lạnh để di chuyển từng thi hài lên tàu. Bây giờ, nồng độ muối đậm đặc của trùng dương mặn mòi, bắt đầu đẩy vọt những tử thi đã chìm dưới đáy biển đêm qua lên mặt nước. Họ trôi lờ đờ, dật dờ một cách đau lòng. Hình ảnh thương tâm nhất, đập vào tâm trí chúng tôi dấu ấn khó nhạt nhòa : xác người đàn bà ôm con cứng ngắt trong lòng, trôi lềnh bềnh dưới nước. Bà bị sợi dây thừng dài quấn quanh cổ, đầu dây phía kia dính vào mảnh ván ghe, kéo nhau lều bều theo sóng. Còn đứa bé như nhắm nghiền mắt vô tư, hồn nhiên ngậm bầu vú mẹ đang căng rữa , trần trụi.
Thượng sĩ nội vụ vuốt mắt, cầu nguyện siêu thoát cho mỗi linh hồn bạc phước. Ông đem bình hoa nylon từ phòng ăn sĩ quan lên đặt trước các thi hài, trịnh trọng thực hiện các nghi lễ cổ truyền. Trên boong tàu, tôi và các sĩ quan đồng nghiệp chụm đầu nhau đặt dấu hỏi, chiếc ghe xấu số có thực sự rủi ro bị tai nạn thảm khốc trong đêm tối không? Xác phụ nữ đều đồng loạt lõa lồ, trần truồng như nhộng - phải chăng bọn thảo khấu nào đó đang diễn trò cướp bóc, hãm hiếp...trên chiếc ghe oan nghiệt này?
Đoàn tàu uể oải giữ đội hình quả trám, rã rời xuôi nam. Mig.21 không gầm gừ với chúng tôi nữa, có lẽ lũ nó đã tấp xuống một phi trường vừa bỏ ngõ, uống rượu ăn mừng một chiến thắng kỳ quặc nhất lịch sử. Trên bờ, T.54 vẫn sùng sục tiến vào các thành phố, nghe hơi giặc từ xa, dân chúng nháo nhào chạy tán loạn. Họ sợ diễn lại cảnh giết người tập thể ở Huế, hồi tết Mậu Thân năm xưa.
Buổi trưa, nắng gay gắt. Mặt trời rớt những mảng sáng chói lòa trên lưng chiến hạm. Dẫu vậy, gió biển luôn gào thét từng hồi. Sóng chụm đầu nhau, quẫy nước, nâng bổng con tàu ngửa nghiêng suốt hải trình. Ngoài khơi, hai chiếc Wec đang tìm cách cặp vào nhau, tiếp tế lương thực. Lúc thủy thủ vừa chuẩn bị cột dây, hai con tàu chợt ngã ngang theo sóng, va chạm liên hồi. Tai ương lại đổ ập xuống...Cứ mỗi lượn sóng nhồi, hữu hạm chiếc này đập chát chúa vào tả hạm chiếc kia nghe rối bời gan ruột. Hạm Trưởng thét vào máy điện đàm, cố gắng chỉ huy tách hai chiếc tàu ra, nhưng chúng giống như thỏi nam châm có sức hút mãnh liệt, không thể kéo rời. Sự va chạm khủng khiếp làm tan nát một khoảng dài thành tàu. Các đồ vật trên boong, đổ văng tung toé xuống biển.
   Buổi chiều, mặt biển tối đen,khắc sâu bóng dáng tử thần.. Vài xác chết đã trương sình, lững lờ trôi rải rác đó đây. Tôi chợt nhớ đến bốn câu thơ của Đoàn Nhữ Khuê:
Bể thảm mênh mông sóng lụt trời
Khách trần chèo một lá thuyền chơi
Thuyền ai ngược gió, ai xuôi gió
Coi lại cùng trong bể thảm thôi!
Tiếng đạn pháo đì đùng từ T.54 của vixi kéo tôi về thực tại. Kẻ thù đã tấn công chiếc Dương Vận Hạm nhân đạo, đang cố châu mũi vào Cam Ranh để rước dân và lính. Một quầng khói đen bốc ra dày đặc từ đài chỉ huy Dương Vận Hạm - chiến hữu của ta vừa gục ngã trên đó...
Tại phi trường Cam Ranh, đoàn trực thăng khoảng vài chục chiếc hối hả bốc lên. Họ bay thẳng ra biển, nối đuôi nhau lặng lẽ, trong tư thế rút lui.
Cuối cùng, HQ231 về tới Vũng Tàu, sau chuyến hải hành rời rã tận cùng. Chưa kịp lăn đùng ra ngủ một giấc cho đã, chúng tôi lại được lệnh ra Tạm Trú Hạm nhận lương thực và nhiên liệu gấp, rồi ngược dòng Mékongvề án ngữ tại Tân Châu.
Chợ Vàm là một trong chợ xã của Tân Châu. Nó nằm bên dòng Mékong thơ mộng, dáng dấp hiền lành như cô gái quê chất phác. Chợ chỉ lưa thưa dăm ba gian hàng nhỏ, vài quán cà phê, và ít xe giải khát lưu động. Ở đây, không khí hoàn toàn yên tĩnh. Chưa có dấu vết của chiến tranh lan tới.
Vừa tìm chỗ neo tàu an toàn, Hạm Trưởng vội vã xách hành lý, nhảy tọt xuống chiếc giang đỉnh đang chờ sẵn, hấp tấp rời tàu. Đám sĩ quan lao nhao, vài vị phóng bừa theo, xin được tháp tùng về Sài Gòn. Trong khi đó, thủy thủ ùa ta từ các phòng, đứng dài dài trên boong tàu, la ó vang rân một góc trời.
Buổi tối, vài nhóm thủy thủ lên bờ từ ban chiều, lục tục kéo về tàu. Mùi rượu bay nồng nặc, bay quanh quất lên trên các khuôn mặt đỏ gay. Họ gọi sĩ quan ra cật vấn. Họ chửi thề, giằng co, đánh nhau túi bụi, gây huyên náo toàn chiến hạm.
Sáng 30 tháng Tư, tôi đau khổ trút bỏ bộ quân phục, tháo tung cặp lon trung úy, cúi đầu xuống dòng sông, lặng lẽ rời tàu.
*Đổi đời
Tháng năm, gia đình tôi thất lạc nhau. Tôi chỉ gặp lại vợ và đứa con trai 5 tháng tuổi, tá túc tạm thời trong căn nhà Bà Nội vợ. Má tôi ở trại gia binh Biên Hòa với người anh Biệt Động Quân. Khi quân đội tan hàng, không biết trôi giạt về đâu? Người anh cả thuộc sư đoàn II bộ binh đã mất tích ở Quảng Ngãi vào tháng Ba, trong trận di tản kinh hoàng.
Tôi về Sài Gòn, tìm Má tôi khắp nơi. Dò la tông tích từ những người tản cư miền đông lên, nhưng không có kết quả. Thành phố nhộn nhịp ngày xưa, nay im lìm như bãi tha ma. Lao nhao có vài đám đông bu quanh bọn cộng sản Bắc Việt, tỏ vẻ nịnh bợ, hoặc ngả ngớn cợt đùa. Ngoài đường, rác rến tràn ngập. Có chỗ, quân phục, quân trang, ba lô...chồng chất lên nhau. Giấy má rải đầy. Những đám lửa nhỏ còn bốc khói, khét lẹt. Các cơ quan hành chánh cũ trống hoác. Những tầng lầu bỏ hoang. Vợ lính, con lính, cùng dân chúng tản cư...chui nhau vào đó lánh nạn.
Tôi gặp Má tôi ở trại tạm cư trên đường Công Lý. Má ốm yếu, gầy gò như que tăm. Chiến tranh kết thúc đã để lại trong Má một nỗi đau đớn, quá khủng khiếp. Bốn đứa con đi lính, cho tới hôm nay... vẫn chưa trở về đầy đủ. Căn nhà ở khu gia binh bị cộng sản tịch thu. Tương lai tối đen trước mặt. Uất ức, Má ôm tôi khóc mùi mẫn trên chiếc chiếu rách tả tơi, trải tạm bên góc thang lầu đầy tàn thuốc.
Ngày sau, thằng em Biệt Động Quân tử thủ ở Buôn Mê Thuột trở về với bộ quần áo rách bươm, thân thể hôi như cú. Chúng tôi lại ôm nhau, khóc ròng, mừng mừng tủi tủi... Chúng tôi bàn nhau đưa Má về Chương Thiện. Vì ở đó còn người chị bà con, có thể tạm nương náu qua ngày.
Cuối cùng, các anh và các em tôi còn lại, kẻ trước người sau... khăn gói vào tù. Ngày vào tù, vợ tôi chưa đầy 21 tuổi. Nàng bồng đứa con trai duy nhất vừa được 5 tháng, tiễn tôi đến tận trại tù. Chúng không khóc được. Hình như nước mắt đã cạn khô từ những tháng trước. Đứng trước cánh cổng nhà giam âm u như địa ngục, tôi nhìn nàng, nhìn con.. .đành giao phó mình cho số Trời.
*Và Đời Đổi
Chỉ không đầy 24 tiếng đồng hồ, từ Việt Nam qua Mỹ, gia đình tôi đã thay đổi một cách trọn vẹn. Túp lều ngai ngái phân trâu, mái dột cột xiêu, một thời che nắng che mưa cho vợ chồng tôi - thoáng chốc, bị đẩy lùi về quá khứ. Nó được thay thế bởi một apartment sáng sủa, đầy đủ tiện nghi - mà chúng tôi phải rón rén bước đi, khi đặt chân lên tấm thảm mềm mại.
Hành trang mang theo gồm cái túi xách cỏn con, bên trong đựng vài bộ đồ nhăn nhúm, ít cuốn anh văn lỗ chỗ dấu mọt gặm, dăm đồ dùng linh tinh làm ở trại cải tạo...Giờ đây, chỉ có nước vứt đi. Vì nhà thờ mới đem cho chúng tôi một thùng đồ to tổ bố. Trong đó, vừa có quần áo hợp thời trang, vừa có những vật dụng cần thiết, đủ phong phú cho cuộc sống hiện tại.
Cách đây không lâu, tôi còn lóc cóc bán vé số khắp hang cùng ngõ hẻm. Buổi tối, trời mưa, còn quơ đại chiếc áo rách tả tơi, lật đật đốt ngọn đèn chong mờ mờ ảo ảo, lội xuống ruộng đầy đỉa vắt, bắt từng con nhái bầu..." kiếm cơm " cho một ngày sắp tới. Vậy mà, bây giờ, ngồi chễm chệ trên xe huê kỳ của vị Giáo Sĩ ( sponsor), đi đến từng cơ quan, bắt tay từng người sang trọng.
Vợ tôi hả hê, tủm tỉm cười suốt ngày. Nàng thích nhất cái tủ lạnh đầy ắp thức ăn. Nào gà, nào thịt, tôm, cua, rau, hành, trái cây...lĩnh kĩnh - do vị sponsor đã hào phóng, khéo léo đặt vào. Mới đó, ở Việt Nam, nàng còn lui cui ra vườn hái rau cải trời, rồi nhảy đùng xuống ao vớt tép rong, mong nấu được nồi canh lõm bõm cho chồng, cho con.
Thằng con tôi dễ ghét hơn. Cậu nằm dài trên sofa, lăn qua lộn lại, khoan khoái tận hưởng những giây phút thần tiên, hiếm hoi nhất trong đời.
Năm dài tháng rộng trôi qua, tôi chưa hề thấy mặt tên cảnh sát hay công an khu vực nào quấy rầy. Cũng chưa có ai đến gõ cửa xét giấy hoặc hỏi hộ khẩu bao giờ. Nhớ lại, ở Việt Nam, hàng tuần tôi phải lặn lội lên đồn công an trình diện. Muốn ra khỏi xã, phải có giấy phép đi đường, phải cầu cạnh xin xỏ đủ điều. Mỗi ngày, các " nhóc " du kích cứ thay nhau đến nhà " thăm viếng ", cho đến khi...rượu cạn bầu, bao rỗng thuốc...mới thôi.
Vợ tôi đang apply vào một hãng điện tử Poway. Nàng vừa lấy xong bằng căn bản về Electronic Assembly. Trong khi chờ đợi công việc, nàng tạm đi cắt chỉ ở hiệu may gần nhà. Sáng làm, chiều đã rinh về một máy cassette mới toanh. Cái máy mà nàng ước mơ từ hồi còn nơi quê nhà. Mười mấy năm quần quật với ruộng đồng, cấy mướn gặt thuê, nàng vẫn chưa dư ra chút khoản tiền để mua được nó.
Điều thích thú nhất của nàng, ở đây, phụ nữ được tôn lên hàng đầu: "lady first". Thực ra, VC cũng có khẩu hiệu đưa phụ nữ lên bình đẳng với nam giới: "nam nữ bình quyền". Nhưng, đó chỉ là cớ để đẩy người đàn bà ra chiến trường: tải thương, vác đạn... Đưa người đàn bà gánh lấy trách nhiệm nặng nề hơn người đàn ông : vừa nuôi chồng trong trại cải tạo, vừa nuôi con nơi quê nhà. Vợ tôi đã sống qua những chuỗi ngày đau đớn đó. Có lần, nàng bị kiệt lực vì " làm nhiều, ăn ít " - đến nổi trụy tim, suýt chết trên đồng ruộng.
Kẻ làm băn khoăn và bận tâm nhất trong gia đình tôi, là  thằng con. 12 năm học trò của cậu ngập chìm trong bóng tối. 12 năm dưới mái trường XHCN, người ta chỉ lếu láo dạy " Bác và Đảng ", lao động là vinh quang, cùng những điều " lấp biển vá trời " khác. Người ta cố bôi xóa hình ảnh CHA MẸ, một hình ảnh thiêng liêng nhất trong cuộc sống con người. Thời đó, bọn "nhóc" - trạc tuổi con tôi - thường hay ngâm nga câu này, sau mỗi lần say lúy túy:
Công cha như rượu đầy chai
Nghĩa mẹ như vịt xé phay...làm mồi.
Nền giáo dục XHCN đã làm trì độn trí tuệ, làm thui chột tài năng của đứa trẻ...nên khi sang Mỹ, thằng con tôi không đủ khả năng tiếp tục học hành. Cậu chán nản, bỏ nhà, lang thang khắp nơi. Cuối cùng, cậu chọn nghề nail, lò mò qua Chicago sinh sống.
Nếu ở xã hội ta, đạo đức là đạo lý của đức hạnh, là giềng mối, là khuôn vàng thước ngọc để hậu thế đi theo. Sau 1975, đạo đức này bị đổi ngược thành đạo đức cách mạng - lộng giả thành chân, kinh khiếp nhất trần gian...Thì ở Mỹ, đạo đức là điều phải lẽ hay bàng bạc trong chốn học đường, trong các tôn giáo. Nhà thờ, chùa chiền, đền đài...đầy dẫy trên đất Mỹ. Và dĩ nhiên, đạo nào cũng khuyên con người nên làm THIỆN, diệt ÁC. Công cha nghĩa mẹ được nhắc nhở hàng năm qua các ngày lễ: Mother's day, Father's day... Thậm chí, có cả ngày Grandparent nữa. Và ngày lễ Thanksgiving: tạ ơn Trời, tạ ơn đời, tạ ơn người, tạ ơn các bậc tiền nhân đã có công xây dựng nên nước Mỹ.
   Có lẽ, Chúa đã đổi đời, đã tái sinh gia đình tôi, đã cho chúng tôi một chỗ đứng ấm áp trong xứ sở thần tiên này. Tên bán vé số hèn mọn ngày nào, mụ đàn bà lọ lem cấy thuê gặt mướn năm xưa, kể cả thằng nhỏ lang thang bụi đời - luôn tủi hổ vì cái lý lịch Ngụy Quân của ba nó... Ngày hôm nay, tất cả đều trở thành những con người hữu ích cho xã hội Mỹ.
Tục ngữ La Tinh (Latin proverb) có câu: "Where liberty is, there is my country". Ở đâu có tự do, ở đó là tổ quốc tôi. Ngày nay, gia đình thằng con tôi đã có một cơ ngơi vững vàng. Chúng tôi có thêm những đứa cháu nội kháu khỉnh: Phạm Tammy, Phạm Cindy, Phạm An Golden... Và điều đặc biệt nhất, cứ mỗi năm đến ngày 30 tháng Tư, chúng tôi dọn một mâm cơm, cầu nguyện và tưởng tiếc đến những chiến sĩ vị quốc vong thân, những người đã cống hiến cuộc đời, đã hy sinh một thời tuổi trẻ cho đất nước Việt Nam...
PHẠM HỒNG ÂN

Ai sẽ bình yên, ai chẳng trở về?

Những con tàu của ngư dân Việt Nam ,
Đã ra khơi giữa trời cao biển rộng,
Làng cá nghèo buồn lo mùa biển động,
Và vui khi biển lặng đón tàu về.
                     Cá đầy vơi khoang, bữa đói bữa no,
                     Những ngư dân vẫn bám tàu, bám biển,
                     Người vợ lam lũ, đàn con nhếch nhác,
                     Tóc mẹ gìa trắng như sóng bạc đầu.
Gom từng đồng mua lưới, mua xăng dầu,
Người ra khơi, người ở nhà mong đợi,
Gío mùa Đông Bắc về tàu đừng lạc lối,
Tàu đừng  chìm vì sóng dữ biển xa.
                     Ngư dân Quảng Ngãi không trở về nhà,
                     Bị Trung Quốc bắt giam đòi tiền chuộc,
                     Tại đảo Hoàng Sa họ đang chiếm đóng,
                     Cấm ngư dân Việt đánh cá quanh đây.
Vùng biển Quảng Bình trời cũng nhiều mây,
Không mưa gío mà nghẹn ngào tiếng khóc,
Xã Đức Trạch, Hải Trạch, huyện Bố Trạch,
Bảy người ra khơi mãi mãi không về.
                          Tàu Trung Quốc đụng, ngang nhiên bỏ đi,
                           Tàu Việt Nam lao đao chìm theo sóng,
                           Chỉ kịp gọi về nhà dòng tin ngắn,
                           Biển nuôi người nhưng không cứu được người.
Hôm nay bàn thờ lập ở giữa trời,
Bên bờ biển cho những người xấu số,
Mảnh vải trắng buộc trên sào theo gío,
Thay mảnh khăn tang của những người thân.
                           Sóng biển đi xa sóng biển về gần,
                           Không mang con tàu trở về theo sóng,
                           Nhũng người thân đã đợi chờ tuyệt vọng,
                           Chồng ơi, con ơi !. Hồn ở phương nào?
   Không chỉ Quảng Bình, Quảng Ngãi biết đau,
   Không chỉ người mất chồng, mất con biết khóc,
   Những người Việt Nam khắp nơi thắc mắc,
   Hận kẻ bạo tàn với nỗi đau chung.
                             Thương những ngư dân vô tội chết oan,
                             Sóng gào thét biển Đông đang nổi giận,
                            Tàu lại ra khơi hoang mang lo lắng,
                            Ai sẽ bình yên, ai chẳng trở về?
                  Nguyễn Thị Thanh Dương

BỨC TỰƠNG “THƯƠNG TIẾC”.



Bức tượng trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa,                
Người lính ngồi, ba lô khóac trên lưng,
Súng  trên đùi, đôi mắt hướng xa xăm,
“Thương Tiếc”những người một thời quân ngũ..
                Họ đã trải qua những ngày sương gío,
                Nơi núi rừng hay trên cánh đồng hoang,
                Giữa đạn bom trong thời buổi chiến tranh,
                Sống và chết mong manh không biên giới.
Bức tượng “Thương Tiếc” ở đây an ủi,
Dáng anh ngồi sừng sững giữa trời xanh,
Những ngôi mồ tử sĩ ở chung quanh,
Nghĩa trang rộng, gío lùa trên cây, cỏ.                   .
               Anh “Thương Tiếc” cho những người nằm đó,
               Ngồi đây canh cho họ giấc ngàn thu,
               Gío đừng về trên mộ lạnh âm u,
               Làm lạnh cả hồn người nơi chín suối.
    Làm đau lòng mẹ gìa, con vô tội,
    Những người thân yêu vẫn xót thương anh,
    Trời có mưa xin hãy tạnh cho nhanh,
    Đừng trôi mất nắm hương tàn trên mộ..
                    Bức tượng “Thương Tiếc” một ngày gãy đổ,
                    Nghĩa trang không còn nguyên vẹn như xưa,
                    Những ngôi mộ buồn cỏ dại bơ vơ,
                    Nhớ người thân, nhớ mùi hương khói cũ.
  Bức tượng “Thương Tiếc” và hồn tử sĩ,
  Vẫn gần nhau bao năm tháng đã qua,
  Tình thân này, tình chiến hữu bao la,
  Bỗng chia cách. Cảnh điêu tàn, hoang vắng.
                      Bức tượng “Thương Tiếc” giờ đây đã mất,
                      Đã chết như những người lính trận kia,
                      Không khói hương, không tên tuổi mộ bia,
                      Nhưng vẫn có một linh hồn biết khóc.
                Nguyễn Thị Thanh Dương .